Dung môi ngành dược, dung môi công nghiệp, dung môi thực phẩm, chất chống đông, chất trung gian ...


GLYCERIN USP

Glycerine (Glycerol, Glycerin) là một polyol đơn giản, không màu, không mùi, nhớt, được sử dụng rộng rãi trong dược phẩm. Glycerol có 3 nhóm -OH nên tan hoàn tốt trong nước. Hầu hết các chất béo đều có sườn từ glycerol, còn gọi là các triglycerides. Glycerine có vị ngọt và độc tính thấp.

1. Tính chất

- Số Cas: 56-81-5
- Công thức phân tử: C3H8O3
- Khối lượng phân tử: 92.09 g/mol
- Ngoại quan: Chất lỏng không màu
- Mùi: Không mùi
- Tỉ trọng: 1.261 g/cm3
- Nhiệt độ đông đặc:17.8oC
- Nhiệt độ sôi: 290oC
- Tính tan trong nước: Tan vô hạn
- Áp suất hơi: < 1 mmHg
- Độ nhớt: 1.412 Pa.s

2. Sản xuất
Glycerine là sườn của các triglyceride, và nó được sản xuất từ phản ứng xà phòng hóa các chất béo như một sản phẩm phụ của quá trình sản xuất xà phòng.

Nó cũng là một sản phẩm phụ của việc sản xuất dầu diesel sinh học thông qua quá trình chuyển đổi ester. Ở dạng này glycerine thô thường tối. Các triglyceride được cho phản ứng với một alcol như ethanol với xúc tác baz để cho ra ester của acid béo và glycerol. 

Glycerine được sản xuất từ Propylene bằng nhiều đường khác nhau. Trong đó quy trình epichlorohydrin là quan trọng nhất, nó bao gồm quá trình chlor hóa propylene để cho ra allyl chloride, sau đó được oxi hóa bởi hypochloride ( ClO- ) để cho ra dichlorohydrin (Cl2-CH-CH2-OH), chất này sau đó phản ứng với một baz mạnh để cho ra epichlorohydrin (ECH). ECH sau đó được thủy phân để cho ra glycerol.

Trong các quá trình trên thì dầu diesel sinh học được ưu tiên nên glycerine có chất lượng không tốt, do vậy phương pháp sản xuất này không cho hiệu quả kinh tế cao. Glycerine có thể được loại bỏ trong quá trình này bằng cách sử dụng một loại enzym đặc biệt để phá vỡ phytol và tinh bột. Loại enzyme này được sản xuất một cách từ một loại vi khuẩn biến đổi gen. Vì quá trình trên không tạo ra glycerine như một sản phẩm phụ nên độ tinh khiết của dầu diesel sinh học được cải thiện đáng kể và giá thành cũng được giảm xuống.

Do vậy chỉ còn lại một cách duy nhất có hiệu quả để sản xuất glycerine, do các yêu cầu về chất lượng cũng như sự nhạy cảm trong các ứng dụng dược phẩm, chăm sóc con người. Nguyên liệu được dùng để sản xuất glycerine gồm có mỡ động vật, như mỡ bò, các dầu thực vật như dầu dừa, dầu đậu nành...
Nó cũng được sử dụng làm chất tạo ẩm (cùng với propylene glycol với tên E1520

3. Ứng dụng

a. Trong công nghiệp thực phẩm

Trong thức ăn và đồ uống, glycerine được sử dụng như một chất tạo ẩm, chất tạo ngọt, chất bảo quản. Ngoài ra nó còn được sử dụng làm chất độn trong các sản phẩm ít béo như bánh ngọt. Glycerine và nước được sử dụng để bảo quản một số loại lá.
Như một chất thay thế cho đường, glycerine chứa khoảng 27 calories trong một thìa cafe (đường chứa 20) và có vị ngọt gần giống đường sucrose, tuy nhiên nó lại không làm tăng lượng đường trong máu và cũng không gây sâu răng. Riêng về mảng phụ gia cho thực phẩm này, glycerine còn được gọi là E422.
Glycerine còn được sử dụng để sản xuất mono- và di-glyceride, được dùng làm chất tạo nhũ, cũng như các ester polyglycerol trong việc sản xuất mỡ và bơ thực vật
Nó cũng được sử dụng như một chất giữ ẩm (cùng với propylene glycol được dán nhãn E1520 hoặc E422) trong sản xuất Snus, một sản phẩm thuốc lá không khói theo phong cách thụy điển.
Khi được sử dụng trong thực phẩm, glycerine được Hiệp hội dinh dưỡng Hoa kỳ phân loại như một carbohydrate.Cục quản lý dược và thực phẩm Mỹ (FDA) phân định carbohydrate là những chất dinh dưỡng có tạo ra năng lượng trừ protein và chất béo. Glycerine có hàm lượng calo tương đương đường ăn nhưng chỉ số đường huyết thấp và có cách trao đổi chất khác trong cơ thể nên được những người ăn kiêng chấp nhận thay cho đường ăn.

b. Ứng dụng trong dược phẩm và chăm sóc cá nhân

Glycerine còn được sử dụng trong y tế, dược phẩm và chăm sóc cá nhân. Nó chủ yếu được dùng như một chất làm trơn và chất giữ ẩm. Nó cũng được dùng trong chất miễn dịch dị ứng, si rô trị ho, kem đánh răng, nước súc miệng, các sản phẩm chăm sóc da, kem cạo râu, các sản phẩm dưỡng tóc, xà phòng.

Glycerine là một thành phần thiết yếu của xà phòng được tạo từ các dẫn xuất của glycerine và các acid béo như sà phòng từ dầu đậu castor, sà phòng bơ ca cao, sà phòng từ mỡ động vật, từ đường mía, hoặc natri laureth sulfate. Một số tinh dầu, hương liệu sẽ được thêm vào để tạo mùi. Các loại xà phòng này được dùng cho những người có da nhạy cảm dễ bị dị ứng do có đặc tính giữ ẩm chống khô da.

Glycerine cũng được sử dụng trong thuốc nhuận tràng để kích thích niêm mạc hậu môn và tạo hiệu ứng hyperomotic.

c. Chất chống đông

Giống ethylene glycol và propylene glycol, glycerine hình thành liên kết hydro mạnh đối với các phân tử nước, làm giảm đi liên kết hydro giữa các phân tử nước với nhau. Chính điều này đã phá vỡ sự hình thành mạng tinh thể băng trừ khi nhiệt độ giảm đáng kể. Nhiệt độ đông đặc thấp nhất có thể đạt được vào khoảng -37.8oC tương ứng với 60-70% glycerine trong nước.

d. Hóa chất trung gian

Glycerine được sử dụng để sản xuất nitroglycerine hoặc glycerol trinitrate (GTN) là một thành phần thiết yếu của thuốc súng không khói và một số loại thuốc nổ khác GNT còn được dùng trong môt số loại thuốc chống tức ngực.
(Bài viết Sưu tầm)

Thông tin sản phẩm:
Thương hiệu: TopSolvent
Xuất xứ: Thái Lan
Đóng gói: 250kg/ phuy
Giá tham khảo: 22000/kg


Glycerin USP - Dung môi ngành dược, thực phẫm.

Dung môi ngành dược, dung môi công nghiệp, dung môi thực phẩm, chất chống đông, chất trung gian ...


GLYCERIN USP

Glycerine (Glycerol, Glycerin) là một polyol đơn giản, không màu, không mùi, nhớt, được sử dụng rộng rãi trong dược phẩm. Glycerol có 3 nhóm -OH nên tan hoàn tốt trong nước. Hầu hết các chất béo đều có sườn từ glycerol, còn gọi là các triglycerides. Glycerine có vị ngọt và độc tính thấp.

1. Tính chất

- Số Cas: 56-81-5
- Công thức phân tử: C3H8O3
- Khối lượng phân tử: 92.09 g/mol
- Ngoại quan: Chất lỏng không màu
- Mùi: Không mùi
- Tỉ trọng: 1.261 g/cm3
- Nhiệt độ đông đặc:17.8oC
- Nhiệt độ sôi: 290oC
- Tính tan trong nước: Tan vô hạn
- Áp suất hơi: < 1 mmHg
- Độ nhớt: 1.412 Pa.s

2. Sản xuất
Glycerine là sườn của các triglyceride, và nó được sản xuất từ phản ứng xà phòng hóa các chất béo như một sản phẩm phụ của quá trình sản xuất xà phòng.

Nó cũng là một sản phẩm phụ của việc sản xuất dầu diesel sinh học thông qua quá trình chuyển đổi ester. Ở dạng này glycerine thô thường tối. Các triglyceride được cho phản ứng với một alcol như ethanol với xúc tác baz để cho ra ester của acid béo và glycerol. 

Glycerine được sản xuất từ Propylene bằng nhiều đường khác nhau. Trong đó quy trình epichlorohydrin là quan trọng nhất, nó bao gồm quá trình chlor hóa propylene để cho ra allyl chloride, sau đó được oxi hóa bởi hypochloride ( ClO- ) để cho ra dichlorohydrin (Cl2-CH-CH2-OH), chất này sau đó phản ứng với một baz mạnh để cho ra epichlorohydrin (ECH). ECH sau đó được thủy phân để cho ra glycerol.

Trong các quá trình trên thì dầu diesel sinh học được ưu tiên nên glycerine có chất lượng không tốt, do vậy phương pháp sản xuất này không cho hiệu quả kinh tế cao. Glycerine có thể được loại bỏ trong quá trình này bằng cách sử dụng một loại enzym đặc biệt để phá vỡ phytol và tinh bột. Loại enzyme này được sản xuất một cách từ một loại vi khuẩn biến đổi gen. Vì quá trình trên không tạo ra glycerine như một sản phẩm phụ nên độ tinh khiết của dầu diesel sinh học được cải thiện đáng kể và giá thành cũng được giảm xuống.

Do vậy chỉ còn lại một cách duy nhất có hiệu quả để sản xuất glycerine, do các yêu cầu về chất lượng cũng như sự nhạy cảm trong các ứng dụng dược phẩm, chăm sóc con người. Nguyên liệu được dùng để sản xuất glycerine gồm có mỡ động vật, như mỡ bò, các dầu thực vật như dầu dừa, dầu đậu nành...
Nó cũng được sử dụng làm chất tạo ẩm (cùng với propylene glycol với tên E1520

3. Ứng dụng

a. Trong công nghiệp thực phẩm

Trong thức ăn và đồ uống, glycerine được sử dụng như một chất tạo ẩm, chất tạo ngọt, chất bảo quản. Ngoài ra nó còn được sử dụng làm chất độn trong các sản phẩm ít béo như bánh ngọt. Glycerine và nước được sử dụng để bảo quản một số loại lá.
Như một chất thay thế cho đường, glycerine chứa khoảng 27 calories trong một thìa cafe (đường chứa 20) và có vị ngọt gần giống đường sucrose, tuy nhiên nó lại không làm tăng lượng đường trong máu và cũng không gây sâu răng. Riêng về mảng phụ gia cho thực phẩm này, glycerine còn được gọi là E422.
Glycerine còn được sử dụng để sản xuất mono- và di-glyceride, được dùng làm chất tạo nhũ, cũng như các ester polyglycerol trong việc sản xuất mỡ và bơ thực vật
Nó cũng được sử dụng như một chất giữ ẩm (cùng với propylene glycol được dán nhãn E1520 hoặc E422) trong sản xuất Snus, một sản phẩm thuốc lá không khói theo phong cách thụy điển.
Khi được sử dụng trong thực phẩm, glycerine được Hiệp hội dinh dưỡng Hoa kỳ phân loại như một carbohydrate.Cục quản lý dược và thực phẩm Mỹ (FDA) phân định carbohydrate là những chất dinh dưỡng có tạo ra năng lượng trừ protein và chất béo. Glycerine có hàm lượng calo tương đương đường ăn nhưng chỉ số đường huyết thấp và có cách trao đổi chất khác trong cơ thể nên được những người ăn kiêng chấp nhận thay cho đường ăn.

b. Ứng dụng trong dược phẩm và chăm sóc cá nhân

Glycerine còn được sử dụng trong y tế, dược phẩm và chăm sóc cá nhân. Nó chủ yếu được dùng như một chất làm trơn và chất giữ ẩm. Nó cũng được dùng trong chất miễn dịch dị ứng, si rô trị ho, kem đánh răng, nước súc miệng, các sản phẩm chăm sóc da, kem cạo râu, các sản phẩm dưỡng tóc, xà phòng.

Glycerine là một thành phần thiết yếu của xà phòng được tạo từ các dẫn xuất của glycerine và các acid béo như sà phòng từ dầu đậu castor, sà phòng bơ ca cao, sà phòng từ mỡ động vật, từ đường mía, hoặc natri laureth sulfate. Một số tinh dầu, hương liệu sẽ được thêm vào để tạo mùi. Các loại xà phòng này được dùng cho những người có da nhạy cảm dễ bị dị ứng do có đặc tính giữ ẩm chống khô da.

Glycerine cũng được sử dụng trong thuốc nhuận tràng để kích thích niêm mạc hậu môn và tạo hiệu ứng hyperomotic.

c. Chất chống đông

Giống ethylene glycol và propylene glycol, glycerine hình thành liên kết hydro mạnh đối với các phân tử nước, làm giảm đi liên kết hydro giữa các phân tử nước với nhau. Chính điều này đã phá vỡ sự hình thành mạng tinh thể băng trừ khi nhiệt độ giảm đáng kể. Nhiệt độ đông đặc thấp nhất có thể đạt được vào khoảng -37.8oC tương ứng với 60-70% glycerine trong nước.

d. Hóa chất trung gian

Glycerine được sử dụng để sản xuất nitroglycerine hoặc glycerol trinitrate (GTN) là một thành phần thiết yếu của thuốc súng không khói và một số loại thuốc nổ khác GNT còn được dùng trong môt số loại thuốc chống tức ngực.
(Bài viết Sưu tầm)

Thông tin sản phẩm:
Thương hiệu: TopSolvent
Xuất xứ: Thái Lan
Đóng gói: 250kg/ phuy
Giá tham khảo: 22000/kg


Đọc thêm..


Sản xuất cồn khô

Côn khô là một nghề dễ làm, ít vốn,sản phẩm được tiêu thụ mạnh,khởi nghiệp bằng doanh nghiệp sản xuất cồn khô, dễ lắm
 Có rất nhiều công nghệ sản xuất cồn khô được công bố trên thế giới. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một công nghệ sản xuất cồn khô của tác giả Mỹ Scott Gartner.

Nguyên liệu sản xuất cồn khô gồm: cồn, dẫn xuất cellulose có lớp bao phủ ngăn chặn quá trình hydrat hóa(trong bài này chúng tôi hướng dẫn sử dụng HPMC, chất kiềm, chất ngăn tạo khói như nhôm trihydrat.

Các loại rượu có thể sử dụng sản xuất cồn khô là rượu có C1-C10 mạch thẳng, bậc hai hay bậc 3 hoặc mạch vòng. Rượu mạch thẳng bao gồm: metanol, etanol, propanol, isopropanol, butanol, isobutyl alcohol, tertbutyl alcohol, pentanol, octanol, isopentyl alcohol, neopentyl alcohol, hexanol, heptanol, octanol, nonanol và decanol hoặc là đồng phân của các rượu trên. Cũng có thể sử dụng rượu mạch vòng như: cyclopropanol, cyclobutanol, cyclopentanol, cyclohexanol, cycloheptanol, cyclooctanol, cyclononanol và cyclodecanol.

Tuy nhiên, rượu thích hợp nhất là các rượu ít carbon như: metanol, etanol, propanol, isopropanol.
Dẫn xuất cellulose thường được sử dụng trong sáng chế là ête alkyl cellulose và ête alkyl hydroxyalkyl. Dẫn xuất ête cellulose điển hình bao gồm metyl cellulose, etyl cellulose, propyl cellulose và butyl cellulose. Trong số dẫn xuất cellulose thích hợp là hydroxyalkyl alkyl cellulose. Hydroxyalkyl alkyl cellulose đặc trưng gồm: hydroxypropyl metyl cellulose, hydroxyetyl etyl cellulose, hydroxypropyl etyl cellulose, hydroxyetyl metyl cellulose, hydroxypropyl propyl cellulose, hydroxyetyl propyl cellulose. 
Dẫn xuất cellulose thích hợp hơn cả là hydroxypropyl methyl cellulose (HPMC) có lớp bao phủ ngăn chặn quá trình hydrat hóa như một lớp axit hay glyoxylated. Dẫn xuất cellulose trong sáng chế này có lớp phủ đặc biệt trên bề mặt để làm chậm lại quá trình hydrat hóa khi hòa trộn với dung dịch cồn. Lớp phủ có thể là 1 loại axit tự nhiên như axit polyacrylic hoặc glyoxalated (như được miêu tả cụ thể trong sáng chế số US3072635).

Lớp phủ thích hợp là glyoxylate chứa một lượng nhỏ glyoxal đưa vào vật liệu cellulose để dễ dàng phân tán. Xử lý bằng glyoxal còn ngăn ngừa quá trình hydrat hóa vật liệu cho đến khi chất kiềm được thêm vào để tác động quá trình đông lại của nhiên liệu cồn.
Dẫn xuất hydroxypropyl metyl cellulose (HPMC) chứa 5-12% khối lượng nhóm Hydroxypropoxy và khoảng 27-30% khối lượng ête cellulose. Trong đó, thuận lợi hơn, dẫn xuất ête cellulose chứa 7-12% khối lượng nhóm hydroxypropoxy, 28-30% khối lượng nhóm methoxyl. Bất kỳ độ nhớt nào của ête cellulose cũng thỏa mãn yêu cầu.

Chất kiềm thì cần thiết để bắt đầu quá trình hydrat hóa; bất kì chất kiềm nào cũng có thể sử dụng để làm tăng độ pH lên trên 8. Các chất kiềm tiêu biểu là LiOH, NaOH, KOH, Cs(OH)2, Li2CO3, Na2CO3, K2CO3, CsCO3, Rb2CO3, Ca(OH)2, Mg(OH)2, SrCO3, Sr(OH)2, Ba(OH)2, BaCO3, BeCO3, hay bất kì chất nào có thể tạo kiềm để làm sệt cồn.
Chất ngăn khói được sử dụng trong thành phần nguyên liệu cồn là nhôm trihydrat. Chất ngăn khói khác có thể được sử dụng chuyển đổi với nhôm trihydrat và chúng bao gồm kiềm kim loại borax hoặc kết hợp kiềm kim loại borax với amoni sulfat, amoni chloride và amoni photphat. Các chất khác như dẫn xuất antimony oxit cũng phù hợp. Các loại muối có thể được thêm vào để điều chỉnh màu ngọn lửa.
Quá trình tạo sản phẩm cồn khô gồm các bước: hòa trộn cồn và hydroxypropyl methyl cellulose có lớp ngăn quá trình hydrat hóa tạo hồ. Thêm một lượng kiềm vào hỗn hợp để làm tăng độ pH lên 8 hoặc cao hơn để tăng hiệu quả đóng rắn.

Nói nhiều hóa chất để các bạn có thể hình dung với việc lựa chọn các sản phẩm có cung cấp sẵn trên thị trường, tuy nhiên nếu nói đơn giản chúng tôi có thể lựa chọn cho các bạn các hóa chất đơn giản, dễ tim, rẻ tiền và an toàn cho sức khỏe như sau :
Cồn etanol, HPMC( chất tạo đặc), Ca(OH)2 (còn gọi là vôi- chất tạo kiềm), nhôm  trihydrat (chất ngăn tạo khói)
Quá trình thực hiện diễn ra như sau: lấy 200ml cồn (170g etanol hoặc metanol hoặc isopropanol) + 50ml nước, trộn lẫn, sau đó thêm vào 10g HPMC tạo thành hồ lỏng, hồ lỏng này chứa nước trong một khoảng thời gian do lớp phủ hiện diện trong HPMC. Chất phủ trong HPMC kiềm hãm quá trình hydrat hóa. Trong khi dung dịch còn lỏng, nó được rót vào bình đựng chứa 2-4g chất kiềm, quá trình hydrat và đóng rắn xảy ra ngay lập tức. Không có chất lỏng dư còn lại sau khi đóng rắn. Theo sáng chế này, quá trình sản xuất này tránh được vấn đề bơm và trào nếu sử dụng vật liệu cellulose khác không có lớp phủ ngăn quá trình hydrat hóa. Lượng nhôm trihydrat được thêm vào từ 0,1-1%. Kết quả là cồn khô đốt cháy không sinh ra khói và mùi khó chịu. Lượng cồn trong viên nhiên liệu quyết định đến tốc độ cháy. Giảm hàm lượng cồn sẽ cho kết quả là nhiệt độ đốt cháy thấp hơn và tốc độ cháy cũng giảm.
Sản phẩm cồn khô thành phẩm chứa: 60-80% khối lượng cồn, 5-35% khối lượng nước, 1-4% khối lượng dẫn xuất cellulose và 0,1-1% chất ngăn khói như nhôm trihydrat.
Sáng chế đã cung cấp công thức và phương pháp sản xuất cồn khô cải tiến dùng để đun nấu và hâm nóng thức ăn. Nhiên liệu dạng cô đặc này có nhiều ưu điểm như: làm chậm lại sự bay hơi của nhiên liệu cồn, gia tăng tính an toàn nhiên liệu, cung cấp nhiên liệu đốt cháy có độ độc thấp, sản phẩm không để lại tro và mồ hóng sau khi cháy. Mặt khác, nhiên liệu dạng rắn theo sáng chế này có độ nhớt không thay đổi dẫn đến tốc độ cháy không thay đổi trong suốt quá trình cháy. Thêm vào đó, lượng nhôm trihydrat thêm vào hạn chế được khói và mùi khó chịu. Một ưu điểm khác là nhiên liệu dạng gel ổn định an toàn trong lưu trữ, vận chuyển, sử dụng và rất kinh tế.

Đây là một công thức rẻ tiền , dễ làm, nếu nhà bạn gần các nhà hàng lớn , bạn có thể xin làm nhà cung cấp cồn , và khởi nghiệp cực nhanh
(Sưu tầm)

Sản xuất cồn khô - Dung môi Methanol


Sản xuất cồn khô

Côn khô là một nghề dễ làm, ít vốn,sản phẩm được tiêu thụ mạnh,khởi nghiệp bằng doanh nghiệp sản xuất cồn khô, dễ lắm
 Có rất nhiều công nghệ sản xuất cồn khô được công bố trên thế giới. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một công nghệ sản xuất cồn khô của tác giả Mỹ Scott Gartner.

Nguyên liệu sản xuất cồn khô gồm: cồn, dẫn xuất cellulose có lớp bao phủ ngăn chặn quá trình hydrat hóa(trong bài này chúng tôi hướng dẫn sử dụng HPMC, chất kiềm, chất ngăn tạo khói như nhôm trihydrat.

Các loại rượu có thể sử dụng sản xuất cồn khô là rượu có C1-C10 mạch thẳng, bậc hai hay bậc 3 hoặc mạch vòng. Rượu mạch thẳng bao gồm: metanol, etanol, propanol, isopropanol, butanol, isobutyl alcohol, tertbutyl alcohol, pentanol, octanol, isopentyl alcohol, neopentyl alcohol, hexanol, heptanol, octanol, nonanol và decanol hoặc là đồng phân của các rượu trên. Cũng có thể sử dụng rượu mạch vòng như: cyclopropanol, cyclobutanol, cyclopentanol, cyclohexanol, cycloheptanol, cyclooctanol, cyclononanol và cyclodecanol.

Tuy nhiên, rượu thích hợp nhất là các rượu ít carbon như: metanol, etanol, propanol, isopropanol.
Dẫn xuất cellulose thường được sử dụng trong sáng chế là ête alkyl cellulose và ête alkyl hydroxyalkyl. Dẫn xuất ête cellulose điển hình bao gồm metyl cellulose, etyl cellulose, propyl cellulose và butyl cellulose. Trong số dẫn xuất cellulose thích hợp là hydroxyalkyl alkyl cellulose. Hydroxyalkyl alkyl cellulose đặc trưng gồm: hydroxypropyl metyl cellulose, hydroxyetyl etyl cellulose, hydroxypropyl etyl cellulose, hydroxyetyl metyl cellulose, hydroxypropyl propyl cellulose, hydroxyetyl propyl cellulose. 
Dẫn xuất cellulose thích hợp hơn cả là hydroxypropyl methyl cellulose (HPMC) có lớp bao phủ ngăn chặn quá trình hydrat hóa như một lớp axit hay glyoxylated. Dẫn xuất cellulose trong sáng chế này có lớp phủ đặc biệt trên bề mặt để làm chậm lại quá trình hydrat hóa khi hòa trộn với dung dịch cồn. Lớp phủ có thể là 1 loại axit tự nhiên như axit polyacrylic hoặc glyoxalated (như được miêu tả cụ thể trong sáng chế số US3072635).

Lớp phủ thích hợp là glyoxylate chứa một lượng nhỏ glyoxal đưa vào vật liệu cellulose để dễ dàng phân tán. Xử lý bằng glyoxal còn ngăn ngừa quá trình hydrat hóa vật liệu cho đến khi chất kiềm được thêm vào để tác động quá trình đông lại của nhiên liệu cồn.
Dẫn xuất hydroxypropyl metyl cellulose (HPMC) chứa 5-12% khối lượng nhóm Hydroxypropoxy và khoảng 27-30% khối lượng ête cellulose. Trong đó, thuận lợi hơn, dẫn xuất ête cellulose chứa 7-12% khối lượng nhóm hydroxypropoxy, 28-30% khối lượng nhóm methoxyl. Bất kỳ độ nhớt nào của ête cellulose cũng thỏa mãn yêu cầu.

Chất kiềm thì cần thiết để bắt đầu quá trình hydrat hóa; bất kì chất kiềm nào cũng có thể sử dụng để làm tăng độ pH lên trên 8. Các chất kiềm tiêu biểu là LiOH, NaOH, KOH, Cs(OH)2, Li2CO3, Na2CO3, K2CO3, CsCO3, Rb2CO3, Ca(OH)2, Mg(OH)2, SrCO3, Sr(OH)2, Ba(OH)2, BaCO3, BeCO3, hay bất kì chất nào có thể tạo kiềm để làm sệt cồn.
Chất ngăn khói được sử dụng trong thành phần nguyên liệu cồn là nhôm trihydrat. Chất ngăn khói khác có thể được sử dụng chuyển đổi với nhôm trihydrat và chúng bao gồm kiềm kim loại borax hoặc kết hợp kiềm kim loại borax với amoni sulfat, amoni chloride và amoni photphat. Các chất khác như dẫn xuất antimony oxit cũng phù hợp. Các loại muối có thể được thêm vào để điều chỉnh màu ngọn lửa.
Quá trình tạo sản phẩm cồn khô gồm các bước: hòa trộn cồn và hydroxypropyl methyl cellulose có lớp ngăn quá trình hydrat hóa tạo hồ. Thêm một lượng kiềm vào hỗn hợp để làm tăng độ pH lên 8 hoặc cao hơn để tăng hiệu quả đóng rắn.

Nói nhiều hóa chất để các bạn có thể hình dung với việc lựa chọn các sản phẩm có cung cấp sẵn trên thị trường, tuy nhiên nếu nói đơn giản chúng tôi có thể lựa chọn cho các bạn các hóa chất đơn giản, dễ tim, rẻ tiền và an toàn cho sức khỏe như sau :
Cồn etanol, HPMC( chất tạo đặc), Ca(OH)2 (còn gọi là vôi- chất tạo kiềm), nhôm  trihydrat (chất ngăn tạo khói)
Quá trình thực hiện diễn ra như sau: lấy 200ml cồn (170g etanol hoặc metanol hoặc isopropanol) + 50ml nước, trộn lẫn, sau đó thêm vào 10g HPMC tạo thành hồ lỏng, hồ lỏng này chứa nước trong một khoảng thời gian do lớp phủ hiện diện trong HPMC. Chất phủ trong HPMC kiềm hãm quá trình hydrat hóa. Trong khi dung dịch còn lỏng, nó được rót vào bình đựng chứa 2-4g chất kiềm, quá trình hydrat và đóng rắn xảy ra ngay lập tức. Không có chất lỏng dư còn lại sau khi đóng rắn. Theo sáng chế này, quá trình sản xuất này tránh được vấn đề bơm và trào nếu sử dụng vật liệu cellulose khác không có lớp phủ ngăn quá trình hydrat hóa. Lượng nhôm trihydrat được thêm vào từ 0,1-1%. Kết quả là cồn khô đốt cháy không sinh ra khói và mùi khó chịu. Lượng cồn trong viên nhiên liệu quyết định đến tốc độ cháy. Giảm hàm lượng cồn sẽ cho kết quả là nhiệt độ đốt cháy thấp hơn và tốc độ cháy cũng giảm.
Sản phẩm cồn khô thành phẩm chứa: 60-80% khối lượng cồn, 5-35% khối lượng nước, 1-4% khối lượng dẫn xuất cellulose và 0,1-1% chất ngăn khói như nhôm trihydrat.
Sáng chế đã cung cấp công thức và phương pháp sản xuất cồn khô cải tiến dùng để đun nấu và hâm nóng thức ăn. Nhiên liệu dạng cô đặc này có nhiều ưu điểm như: làm chậm lại sự bay hơi của nhiên liệu cồn, gia tăng tính an toàn nhiên liệu, cung cấp nhiên liệu đốt cháy có độ độc thấp, sản phẩm không để lại tro và mồ hóng sau khi cháy. Mặt khác, nhiên liệu dạng rắn theo sáng chế này có độ nhớt không thay đổi dẫn đến tốc độ cháy không thay đổi trong suốt quá trình cháy. Thêm vào đó, lượng nhôm trihydrat thêm vào hạn chế được khói và mùi khó chịu. Một ưu điểm khác là nhiên liệu dạng gel ổn định an toàn trong lưu trữ, vận chuyển, sử dụng và rất kinh tế.

Đây là một công thức rẻ tiền , dễ làm, nếu nhà bạn gần các nhà hàng lớn , bạn có thể xin làm nhà cung cấp cồn , và khởi nghiệp cực nhanh
(Sưu tầm)
Đọc thêm..
Dung môi ngành in - In ống đồng

Khái niệm in ống đồng


Phương pháp in ống đồng ở khuôn các phần tử in nằm sâu hơn các phần tử để trắng. Độ sâu của các phần tử để trắng. Độ sâu của các phần tử in phụ thuộc vào tầng thứ của bài mẫu những bộ phận tối của bài mẫu ứng với những phần tử in có độ sâu lớn hơn trên khuôn in và những bộ phận sáng của bài mẫu có độ sâu nhỏ hơn trên khuôn in. Tầng thứ của bài mẫu ở phương pháp in ống đồng (in lõm) được thể hiện trên tờ in bằng độ dày khác nhau của lớp mực

Trong quá trình in trước tiên mực được truyền tới các phần tử in và các phần tử không in sau đó nhờ một dao gạt mực. Đặc biệt mực được gạt sạch khỏi các phần tử không in và phần mực thừa ở các phần tử in.

Chế tạo khuôn in ống đồng.
Hiện nay người ta có thể chế tạo các khuôn in ống đồng bằng các phương pháp quang hóa hoặc phương pháp khắc điện tử. Phương pháp quang hoá dựa trên cơ sở các quá trình ảnh, quá trình hoá – lý , quá trình cơ học và điện phân
Ví dụ : hình ảnh được truyền sang khuôn in bằng quá trình chụp ảnh còn các phần tử in được ăn sâu bằng quá trình ăn mòn hóa học

Quá trình công nghệ chế tạo khuôn in ống đồng bằng phương pháp quang hóa gồm các công đoạn chính
a. Chế tạo phim dương bản và bình bản
b. Chuẩn bị vật liệu làm khuôn in
c. Truyền hình ảnh sang khuôn in
d. Ăn mòn và gia công khuôn in

1. Chế tạo phim dương bản và bình bản
Tuỳ đặc điểm của ấn phẩm, để chế tạo khuôn in ta có thể dùng các bài mẫu khác nhau ( ảnh chụp, ảnh vẽ nétvv..v) Quá trình chế tạo dương bản nét và chữ trơn không khác gì so với quá trình chế tạo khuôn in offset
Với dương bản tầng thứ( chụp từ các ảnh..) điểm khác với offset là không chụp qua tram( không dùng tram ở công đoạn này). Trước hế, từ các bản mẫu tầng thứ nhận được âm bản, Sau đó từ âm bản này lại công tắc ra dương bản. Một điểm cần lưu ỳ việc sửa chửa những sai sót trực tiếp trên khuôn in ống đồng rất phức tạp và khó thực hiện theo ý muốn, nên tất cả những nhược điểm về tầng thứ và mọi khuyết tật khác cần phải được khắc phục ngay từ âm bản và dương bản . Sau khi có phim dương bản việc tiếp theo là bình bản công việc này cũng tương tự như đã làm với bình bản offset. Tùy công nghệ chế bản ( một quá trình hay hai quá trình) có thể để chử riêng hay ảnh riêng

2. Chuẩn bị vật liệu làm khuôn
Vì ở phương pháp in ống đồng còn áp dụng dao gạt mực nên phần lớn khuôn in được chế tạo không phải bằng tấm kim loại mà là những tấm thép hình trụ, trên bề mặt ống thép này được phủ một lớp đồng. Những ống thép( chưa phủ đồng) như thế được gởi tới nhà in cùng với máy in và có thể sử dụng nhiều lần
Khi chế tạo khuôn in ống thép hình trụ được gia công kỹ trên máy tiện và rửa sạch bụi bẩn. mỡ bằng dung dịch kiềm hoặc axít, sau đó phủ một lớp niken mỏng( 0.005-0.01mm) bằng phương pháp mạ . Khi đã phủ đạt yêu cầu kỹ thuật của lớp niken, ống thép được chuyển sang phần mạ đồng. Lớp đồng được phủ lên bằng quá trình điện phân. Trong khi tiến hành điện phân, ống thép được quay liên tục và dung dịch điện phân được khuấy liên tục. Trước tiên phủ lớp đế đồng với độ dày 0.1- 0.15mm,lớp “áo đồng” được dùng để tạo nên các phần tử in và các phần tử đễ trắng.
Mục đích của lớp phủ đế đồng lên bề mặt thép là đưa đường kính, của ống đồng tói kích thước theo đính yêu cầu cần thiết. Trước khi phủ lớp” áo đồng” người ta phủ lên ống trụ một lớp bạc ( Ag) thật mỏng. Nhờ lớp bạc này, sao khi in xong lớp “áo đồng” dễ dàng tách khỏi ống thép ( tách khỏi lớp đế đồng) Bề mặt lớp “ áo đồng” phải đảm bảo nhẵn bóng, không xước, không rạn nứt.. Muốn đạt yêu cầu này không phải chỉ chú ý đến thành phần dung dịch điện phân và chế độ điện phân đặc biệt, mà còn phải mài bóng lóp áo đồng bằng một loại thuốc đặc biệt
Nếu ống thép đã dùng khi tiến hành chuẩn bị phải tẩy bỏ lớp “áo đồng”, làm sạch lớp đế đồng , mạ bạc lớp mỏng, phủ lớp áo đồng mới và mài bóng

3. Truyền hình ảnh sang khuôn in
Để có thể nhận đựơc những phần tử in có độ nông – sâu khác nhau trong quá trình ăn mòn, nhất thiết phải tạo ra đựơc những “nét” hình ảnh cao thấp khác nhau. Hình ảnh “đặc biệt” như vậy không thể nhận được bằng phương pháp truyền trực tiếp hình ảnh từ dương bản ( phim) sang bề mặt ống đồng. Nên người ta phải dùng giấy pigment: Trước hết truyền hình ảnh sang giấy pigment đó mời truyền từ giấy pigment sang bề mặt ống thép dùng làm khuôn in.

4 .Ăn mòn và gia công khuôn in
Sau khi hiện, phải tiến hành ăn mòn bằng dung dịch sắt clorua. Quá trình ăn mòn là quá trình hóa – lý rất phức tạp . Đặc điểm của quá trình ăn mòn khuôn in lõm là : quá trình ăn mòn kim loại xãy ra dưới lớp pigment đã bắt hình. Đặc điểm này khác với in typô gây phúc tạp cho quá trình ăn mòn và khó khăn cho việc kiểm tra. Ngoài ra sau khi ăn mòn thì không thể sửa khuôn in được. Dung dịch sắt clorua, sau khi thấm qua lớp pigment bắt hình sẽ hoà tan đồng ở các phần tử in, độ sâu trong khi ăn mòn đồng phụ thuộc không những vào độ dày của lớp bắt hình, mà còn phụ thuộc vào nồng độ và nhiệt độ của sắt clorua, thời gian ăn mòn, độ ẩm và nhiệt độ không khív.v. ví dụ nếu dung dịch ăn mòn loãng sẽ chóng thấm qua lớp pigment bắt hình và ăn mòn đồng sâu hơn

Để bảm đảm truyền chính xác tầng thứ của bài mẫu nhấ thiết phải đạt được độ sâu của các phần tử in ở bộ phận tốt nhất là 55 -60 micromet sâu hơn những phần tử in ở bộ phận sáng từ 14 đến 16 lần

Sau khi ăn mòn tẩy bỏ lớp bảo vệ axít và lớp pigment bắt hình bằng xăng và axít clohidiric HCL. Kết quả là ta nhận được khuôn in ống đồng với độ chính xác về màu sắc và tầng thứ

Đây là phương pháp chế tạo khuôn in ống đồng trong giai đoạn trước khi máy khắc ống đồng điện tử xuất hiện.



Khác với phương pháp quang hoá phương pháp khắc điện tử dựa trên cơ sở việc sử dụng máy khắc điện tử tự động. Các phần tử cần in sau khi hoàn thiện bản in trên máy vi tính sẽ được truyền thẳng sang máy khắc trục ống đồng , máy khắc điện tử sẽ sử dụng một đầu khắc tia Lase bắn thẳng vào trục ống đồng qua đó sẽ khắc lên trục những phần tử cần in . Độ nông sâu của vết khắc tùy thuộc vào độ đậm nhạt và tầng thứ của bài mẫu, đây là pp mà hiện nay hầu hết ngành in ống đồng ở các nước phát triển đang sử dụng. Ở nước ta hiện nay hầu hết đều được tạo bằng phương pháp này do có nhiều ưa điểm như: Bảo đảm độ chính xác của phần tử in , quá trình thực hiện nhanh chóng và bỏ qua được nhiều công đoạn trong quá trình chế tạo khuôn in ống đồng, giảm bớt sự tác động của các yếu tố trong công đoạn chế tạo khuôn in so với phương pháp chế tạo khuôn in bằng phương pháp quang hoá

Chú ý : Phải đảm bảo sự chính xác về kích thước của hình ảnh trong tất cả các công đoạn của quá trình kỹ thuật. Quá trình phân màu cũng tương tự như chụp phân màu trong phương pháp in offset. Nhưng phương pháp in ống đồng khác với phương pháp in Typô và in Offset ở chổ tầng thứ của bài mẫu được truyền sang tờ in nhờ độ dày của lớp mực nên phương pháp in ống đồng chỉ cần in 3 màu in để phục chế các bài mẫu màu, màu thứ tư ít khi được sử dụng, cũng giống như trong phương pháp in offset, các phim âm bản và dương bãn của phương pháp in ống đồng phải được sửa chửa hoàn chỉnh trứơc khi phơi bản. Vì bản in ống đồng được chế tạo công phu và rất phức tạp nên không thể chề bản in thử như trong in Offset với pp in ống đồng khuôn in thật và in thử là một


Vietnamprint

In ống đồng - Dung môi ngành in

Dung môi ngành in - In ống đồng

Khái niệm in ống đồng


Phương pháp in ống đồng ở khuôn các phần tử in nằm sâu hơn các phần tử để trắng. Độ sâu của các phần tử để trắng. Độ sâu của các phần tử in phụ thuộc vào tầng thứ của bài mẫu những bộ phận tối của bài mẫu ứng với những phần tử in có độ sâu lớn hơn trên khuôn in và những bộ phận sáng của bài mẫu có độ sâu nhỏ hơn trên khuôn in. Tầng thứ của bài mẫu ở phương pháp in ống đồng (in lõm) được thể hiện trên tờ in bằng độ dày khác nhau của lớp mực

Trong quá trình in trước tiên mực được truyền tới các phần tử in và các phần tử không in sau đó nhờ một dao gạt mực. Đặc biệt mực được gạt sạch khỏi các phần tử không in và phần mực thừa ở các phần tử in.

Chế tạo khuôn in ống đồng.
Hiện nay người ta có thể chế tạo các khuôn in ống đồng bằng các phương pháp quang hóa hoặc phương pháp khắc điện tử. Phương pháp quang hoá dựa trên cơ sở các quá trình ảnh, quá trình hoá – lý , quá trình cơ học và điện phân
Ví dụ : hình ảnh được truyền sang khuôn in bằng quá trình chụp ảnh còn các phần tử in được ăn sâu bằng quá trình ăn mòn hóa học

Quá trình công nghệ chế tạo khuôn in ống đồng bằng phương pháp quang hóa gồm các công đoạn chính
a. Chế tạo phim dương bản và bình bản
b. Chuẩn bị vật liệu làm khuôn in
c. Truyền hình ảnh sang khuôn in
d. Ăn mòn và gia công khuôn in

1. Chế tạo phim dương bản và bình bản
Tuỳ đặc điểm của ấn phẩm, để chế tạo khuôn in ta có thể dùng các bài mẫu khác nhau ( ảnh chụp, ảnh vẽ nétvv..v) Quá trình chế tạo dương bản nét và chữ trơn không khác gì so với quá trình chế tạo khuôn in offset
Với dương bản tầng thứ( chụp từ các ảnh..) điểm khác với offset là không chụp qua tram( không dùng tram ở công đoạn này). Trước hế, từ các bản mẫu tầng thứ nhận được âm bản, Sau đó từ âm bản này lại công tắc ra dương bản. Một điểm cần lưu ỳ việc sửa chửa những sai sót trực tiếp trên khuôn in ống đồng rất phức tạp và khó thực hiện theo ý muốn, nên tất cả những nhược điểm về tầng thứ và mọi khuyết tật khác cần phải được khắc phục ngay từ âm bản và dương bản . Sau khi có phim dương bản việc tiếp theo là bình bản công việc này cũng tương tự như đã làm với bình bản offset. Tùy công nghệ chế bản ( một quá trình hay hai quá trình) có thể để chử riêng hay ảnh riêng

2. Chuẩn bị vật liệu làm khuôn
Vì ở phương pháp in ống đồng còn áp dụng dao gạt mực nên phần lớn khuôn in được chế tạo không phải bằng tấm kim loại mà là những tấm thép hình trụ, trên bề mặt ống thép này được phủ một lớp đồng. Những ống thép( chưa phủ đồng) như thế được gởi tới nhà in cùng với máy in và có thể sử dụng nhiều lần
Khi chế tạo khuôn in ống thép hình trụ được gia công kỹ trên máy tiện và rửa sạch bụi bẩn. mỡ bằng dung dịch kiềm hoặc axít, sau đó phủ một lớp niken mỏng( 0.005-0.01mm) bằng phương pháp mạ . Khi đã phủ đạt yêu cầu kỹ thuật của lớp niken, ống thép được chuyển sang phần mạ đồng. Lớp đồng được phủ lên bằng quá trình điện phân. Trong khi tiến hành điện phân, ống thép được quay liên tục và dung dịch điện phân được khuấy liên tục. Trước tiên phủ lớp đế đồng với độ dày 0.1- 0.15mm,lớp “áo đồng” được dùng để tạo nên các phần tử in và các phần tử đễ trắng.
Mục đích của lớp phủ đế đồng lên bề mặt thép là đưa đường kính, của ống đồng tói kích thước theo đính yêu cầu cần thiết. Trước khi phủ lớp” áo đồng” người ta phủ lên ống trụ một lớp bạc ( Ag) thật mỏng. Nhờ lớp bạc này, sao khi in xong lớp “áo đồng” dễ dàng tách khỏi ống thép ( tách khỏi lớp đế đồng) Bề mặt lớp “ áo đồng” phải đảm bảo nhẵn bóng, không xước, không rạn nứt.. Muốn đạt yêu cầu này không phải chỉ chú ý đến thành phần dung dịch điện phân và chế độ điện phân đặc biệt, mà còn phải mài bóng lóp áo đồng bằng một loại thuốc đặc biệt
Nếu ống thép đã dùng khi tiến hành chuẩn bị phải tẩy bỏ lớp “áo đồng”, làm sạch lớp đế đồng , mạ bạc lớp mỏng, phủ lớp áo đồng mới và mài bóng

3. Truyền hình ảnh sang khuôn in
Để có thể nhận đựơc những phần tử in có độ nông – sâu khác nhau trong quá trình ăn mòn, nhất thiết phải tạo ra đựơc những “nét” hình ảnh cao thấp khác nhau. Hình ảnh “đặc biệt” như vậy không thể nhận được bằng phương pháp truyền trực tiếp hình ảnh từ dương bản ( phim) sang bề mặt ống đồng. Nên người ta phải dùng giấy pigment: Trước hết truyền hình ảnh sang giấy pigment đó mời truyền từ giấy pigment sang bề mặt ống thép dùng làm khuôn in.

4 .Ăn mòn và gia công khuôn in
Sau khi hiện, phải tiến hành ăn mòn bằng dung dịch sắt clorua. Quá trình ăn mòn là quá trình hóa – lý rất phức tạp . Đặc điểm của quá trình ăn mòn khuôn in lõm là : quá trình ăn mòn kim loại xãy ra dưới lớp pigment đã bắt hình. Đặc điểm này khác với in typô gây phúc tạp cho quá trình ăn mòn và khó khăn cho việc kiểm tra. Ngoài ra sau khi ăn mòn thì không thể sửa khuôn in được. Dung dịch sắt clorua, sau khi thấm qua lớp pigment bắt hình sẽ hoà tan đồng ở các phần tử in, độ sâu trong khi ăn mòn đồng phụ thuộc không những vào độ dày của lớp bắt hình, mà còn phụ thuộc vào nồng độ và nhiệt độ của sắt clorua, thời gian ăn mòn, độ ẩm và nhiệt độ không khív.v. ví dụ nếu dung dịch ăn mòn loãng sẽ chóng thấm qua lớp pigment bắt hình và ăn mòn đồng sâu hơn

Để bảm đảm truyền chính xác tầng thứ của bài mẫu nhấ thiết phải đạt được độ sâu của các phần tử in ở bộ phận tốt nhất là 55 -60 micromet sâu hơn những phần tử in ở bộ phận sáng từ 14 đến 16 lần

Sau khi ăn mòn tẩy bỏ lớp bảo vệ axít và lớp pigment bắt hình bằng xăng và axít clohidiric HCL. Kết quả là ta nhận được khuôn in ống đồng với độ chính xác về màu sắc và tầng thứ

Đây là phương pháp chế tạo khuôn in ống đồng trong giai đoạn trước khi máy khắc ống đồng điện tử xuất hiện.



Khác với phương pháp quang hoá phương pháp khắc điện tử dựa trên cơ sở việc sử dụng máy khắc điện tử tự động. Các phần tử cần in sau khi hoàn thiện bản in trên máy vi tính sẽ được truyền thẳng sang máy khắc trục ống đồng , máy khắc điện tử sẽ sử dụng một đầu khắc tia Lase bắn thẳng vào trục ống đồng qua đó sẽ khắc lên trục những phần tử cần in . Độ nông sâu của vết khắc tùy thuộc vào độ đậm nhạt và tầng thứ của bài mẫu, đây là pp mà hiện nay hầu hết ngành in ống đồng ở các nước phát triển đang sử dụng. Ở nước ta hiện nay hầu hết đều được tạo bằng phương pháp này do có nhiều ưa điểm như: Bảo đảm độ chính xác của phần tử in , quá trình thực hiện nhanh chóng và bỏ qua được nhiều công đoạn trong quá trình chế tạo khuôn in ống đồng, giảm bớt sự tác động của các yếu tố trong công đoạn chế tạo khuôn in so với phương pháp chế tạo khuôn in bằng phương pháp quang hoá

Chú ý : Phải đảm bảo sự chính xác về kích thước của hình ảnh trong tất cả các công đoạn của quá trình kỹ thuật. Quá trình phân màu cũng tương tự như chụp phân màu trong phương pháp in offset. Nhưng phương pháp in ống đồng khác với phương pháp in Typô và in Offset ở chổ tầng thứ của bài mẫu được truyền sang tờ in nhờ độ dày của lớp mực nên phương pháp in ống đồng chỉ cần in 3 màu in để phục chế các bài mẫu màu, màu thứ tư ít khi được sử dụng, cũng giống như trong phương pháp in offset, các phim âm bản và dương bãn của phương pháp in ống đồng phải được sửa chửa hoàn chỉnh trứơc khi phơi bản. Vì bản in ống đồng được chế tạo công phu và rất phức tạp nên không thể chề bản in thử như trong in Offset với pp in ống đồng khuôn in thật và in thử là một


Vietnamprint
Đọc thêm..
Dung môi ngành sơn - Dung môi công nghiệp - Dung môi hưu cơ 
 DUNG MÔI – DUNG MÔI NGÀNH SƠN – DUNG MÔI HƯU CƠ


 DUNG MÔI – DUNG MÔI NGÀNH SƠN – DUNG MÔI HƯU CƠ


Khái niệm dung môi và các loại dung môi thường dùng:
Dung môi là một chất lỏng, rắn, hoặc khí dùng để hòa tan một chất tan rắn, lỏng, hoặc khí khác, tạo thành một thể đồng nhất. Với mỗi chất khác nhau có thể hòa tan trong một thể tích dung môi nhất định ở một nhiệt độ quy định.
Có nhiều cách phân loại dung môi, trong đó có dung môi hữu cơ - dung môi vô cơ; dung môi phân cực - dung môi không phân cực;... Dung môi hữu cơ được sử dụng chủ yếu trong công tác làm sạch khô (ví dụ như tetrachlorethylene), chất pha loãng sơn (ví dụ như toluene, nhựa thông), chất tẩy sơn đánh bóng móng tay và các dung môi tẩy keo (acetone, methyl acetate, ethyl acetate), trong tẩy tại chỗ (ví dụ như hexane, petrol ether), trong chất tẩy rửa (citrus terpenes), trong nước hoa (ethanol), trong chiết xuất dược phẩm và trong tổng hợp hóa học. Việc sử dụng các dung môi vô cơ (trừ nước) thường được giới hạn trong nghiên cứu hóa học và một số quy trình công nghệ.
Dung dịch khác hỗn hơp. Dung dịch gồm chất tan và dung môi hòa vào nhau tạo thành một thể đồng nhất còn hỗn hợp thì phân tử các chất riêng biệt nhau và không có sự tương tác về mặt phân tử. Khi hòa tan tạo thành dung dịch, các phân tử dung môi tương tác với các phân tử chất tan làm chúng tách rời ra và đi vào dung môi, trong quá trình này, thông thường nhiệt độ sẽ tăng lên, một số quá trình hòa tan lại làm nhiệt độ giảm xuống. Quá trình hòa tan tạo thành hệ chất tan - dung môi có tính ổn định nhiệt động cao hơn so với nội tại chất tan.
Dung môi có thể được chia thành hai loại: phân cực và không phân cực. Nói chung, các hằng số điện môi của dung môi phản ánh sơ bộ tính phân cực của dung môi. Tính phân cực mạnh của nước được lấy làm chuẩn, ở 20 °C, hằng số điện môi là 80,10. Các dung môi có hằng số điện môi nhỏ hơn 15 thường được coi là không phân cực. Về mặt kỹ thuật, hằng số điện môi phản ánh khả năng làm giảm cường độ trường điện của điện trường xung quanh một hạt tích điện nằm trong đó. Sự giảm đi này sau đó được so sánh với cường độ trường điện của các hạt tích điện trong chân không. Theo cách hiểu thông thường, hằng số điện môi của một dung môi có thể được hiểu là khả năng làm giảm sự tích điện nội bộ của chất tan

Sơn dung môi: Dung môi hữu cơ được sử dụng để giữ nhựa và bột màu nằm ở dạng lỏng. Một số loại dung môi khác nhau được sử dụng để sản xuất loại sơn này. Lượng dung môi trong sơn sản phẩm chiếm tới 40-50% khối lượng. Sau khi dung môi bay hơi hết tạo thành màng sơn.

Dung môi sơn là một thành phần quan trọng trong công nghiệp sản xuất Sơn.

Dung môi
Dung môi hữu cơ có chức năng giữ nhựa và bột màu ở dạng lỏng. Có nhiều loại dung môi hữu cơ được sử dụng, tùy theo chủng loại sơn. Các nhóm dung môi thường được sử dụng bao gồm:
Dung môi có chứa nhân thơm (toluene, xylen..)                    30%
Dung môi dạng mạch thẳng                                                 27%
Dung môi gốc xeton (methyl ethyl xeton-MEK, MIBK)         17%
Dung môi gốc alcohol (butyl alcohol, ethyl alcohol..)             17%
Dung môi loại khác                                                            14%
Đối với sơn nhũ tương gốc nước (water-based paint), thay vì dùng dung môi, nước được sử dụng với chức năng tương tự.
Lượng dung môi sử dụng khoảng 400-500kg/tấn sơn (trong cả chất tạo màng). So với thế giới lượng này còn cao hơn do công nghệ sơn thế giới đã tự động hóa và sản phẩm có hàm lượng rắn cao. 

Các loại hoá chất thường sử dụng: Toluene, Xylene, TopSol A100, TopSol A150, TopSol A150ND, TopSol 3040A, Methanol, IPA, Acetone, MEK, MIBK, EA, BA, SBA, TopSol PM, TopSol PMA, BGE, Methylene Chloride.

Thành phần cơ bản của Sơn  bao gồm :
- Chất kết dính (chất tạo màng)
- Bột màu/bột độn
- Dung môi

Chất kết dính : Là chất kết dính cho tất cả  các loại bột màu và tạo màng bám dính trên bề mặt vật chất. Chất kết dính sử dụng trong sơn đươc xác định bởi loại sơn, khả năng sử dụng và mục đích sử dụng. Chất kết dính phải  bảo đảm về khả năng bám dính. liên kết màng và độ bền màng
Bột độn (extender) : Bột độn được sử dụng trong thành phần của sơn nhằm cải tiến một số tính chất sản phẩm như ; tính chất màng sơn (độ bóng, độ cứng, độ mượt...), khả năng thi công , kiểm soát độ lắng. Chất độn thường được sử dụng như : Carbonate calcium, Kaoline, Oxide titan, Talc .

Bột màu (Pigment): Nguyên liệu màu sử dụng trong sơn thường là dạng bột. Chức năng chính của màu là tạo màu sắc và độ che phủ cho sơn. Ngoài ra, màu còn ảnh hưởng một số tính chất màng sơn như : độ bóng, độ bền...
Màu gồm hai loại : Vô cơ và Hữu cơ.
Màu vô cơ (màu tự nhiên) : Tone màu thường tối, xỉn nhưng cho độ phủ cao, độ bền màu tốt.
Màu hữu cơ (màu tổng hợp) : Tone màu tươi sáng, cho độ phủ thấp, độ bền màu thấp hơn màu vô cơ.
Phụ gia : Là loại chỉ sử dụng với một lượng rất nhỏ nhưng làm tăng giá trị sử dụng, khả năng bảo quản,tính chất của màng .

Dung môi : Là chất hòa tan nhựa hay pha loãng sơn. Đặc tính nhựa trong sơn sẽ quyết định loại dung môi được sử dụng.  

(Sưu tầm & Tổng hợp)

Dung môi ngành sơn - Dung môi hữu cơ

Dung môi ngành sơn - Dung môi công nghiệp - Dung môi hưu cơ 
 DUNG MÔI – DUNG MÔI NGÀNH SƠN – DUNG MÔI HƯU CƠ


 DUNG MÔI – DUNG MÔI NGÀNH SƠN – DUNG MÔI HƯU CƠ


Khái niệm dung môi và các loại dung môi thường dùng:
Dung môi là một chất lỏng, rắn, hoặc khí dùng để hòa tan một chất tan rắn, lỏng, hoặc khí khác, tạo thành một thể đồng nhất. Với mỗi chất khác nhau có thể hòa tan trong một thể tích dung môi nhất định ở một nhiệt độ quy định.
Có nhiều cách phân loại dung môi, trong đó có dung môi hữu cơ - dung môi vô cơ; dung môi phân cực - dung môi không phân cực;... Dung môi hữu cơ được sử dụng chủ yếu trong công tác làm sạch khô (ví dụ như tetrachlorethylene), chất pha loãng sơn (ví dụ như toluene, nhựa thông), chất tẩy sơn đánh bóng móng tay và các dung môi tẩy keo (acetone, methyl acetate, ethyl acetate), trong tẩy tại chỗ (ví dụ như hexane, petrol ether), trong chất tẩy rửa (citrus terpenes), trong nước hoa (ethanol), trong chiết xuất dược phẩm và trong tổng hợp hóa học. Việc sử dụng các dung môi vô cơ (trừ nước) thường được giới hạn trong nghiên cứu hóa học và một số quy trình công nghệ.
Dung dịch khác hỗn hơp. Dung dịch gồm chất tan và dung môi hòa vào nhau tạo thành một thể đồng nhất còn hỗn hợp thì phân tử các chất riêng biệt nhau và không có sự tương tác về mặt phân tử. Khi hòa tan tạo thành dung dịch, các phân tử dung môi tương tác với các phân tử chất tan làm chúng tách rời ra và đi vào dung môi, trong quá trình này, thông thường nhiệt độ sẽ tăng lên, một số quá trình hòa tan lại làm nhiệt độ giảm xuống. Quá trình hòa tan tạo thành hệ chất tan - dung môi có tính ổn định nhiệt động cao hơn so với nội tại chất tan.
Dung môi có thể được chia thành hai loại: phân cực và không phân cực. Nói chung, các hằng số điện môi của dung môi phản ánh sơ bộ tính phân cực của dung môi. Tính phân cực mạnh của nước được lấy làm chuẩn, ở 20 °C, hằng số điện môi là 80,10. Các dung môi có hằng số điện môi nhỏ hơn 15 thường được coi là không phân cực. Về mặt kỹ thuật, hằng số điện môi phản ánh khả năng làm giảm cường độ trường điện của điện trường xung quanh một hạt tích điện nằm trong đó. Sự giảm đi này sau đó được so sánh với cường độ trường điện của các hạt tích điện trong chân không. Theo cách hiểu thông thường, hằng số điện môi của một dung môi có thể được hiểu là khả năng làm giảm sự tích điện nội bộ của chất tan

Sơn dung môi: Dung môi hữu cơ được sử dụng để giữ nhựa và bột màu nằm ở dạng lỏng. Một số loại dung môi khác nhau được sử dụng để sản xuất loại sơn này. Lượng dung môi trong sơn sản phẩm chiếm tới 40-50% khối lượng. Sau khi dung môi bay hơi hết tạo thành màng sơn.

Dung môi sơn là một thành phần quan trọng trong công nghiệp sản xuất Sơn.

Dung môi
Dung môi hữu cơ có chức năng giữ nhựa và bột màu ở dạng lỏng. Có nhiều loại dung môi hữu cơ được sử dụng, tùy theo chủng loại sơn. Các nhóm dung môi thường được sử dụng bao gồm:
Dung môi có chứa nhân thơm (toluene, xylen..)                    30%
Dung môi dạng mạch thẳng                                                 27%
Dung môi gốc xeton (methyl ethyl xeton-MEK, MIBK)         17%
Dung môi gốc alcohol (butyl alcohol, ethyl alcohol..)             17%
Dung môi loại khác                                                            14%
Đối với sơn nhũ tương gốc nước (water-based paint), thay vì dùng dung môi, nước được sử dụng với chức năng tương tự.
Lượng dung môi sử dụng khoảng 400-500kg/tấn sơn (trong cả chất tạo màng). So với thế giới lượng này còn cao hơn do công nghệ sơn thế giới đã tự động hóa và sản phẩm có hàm lượng rắn cao. 

Các loại hoá chất thường sử dụng: Toluene, Xylene, TopSol A100, TopSol A150, TopSol A150ND, TopSol 3040A, Methanol, IPA, Acetone, MEK, MIBK, EA, BA, SBA, TopSol PM, TopSol PMA, BGE, Methylene Chloride.

Thành phần cơ bản của Sơn  bao gồm :
- Chất kết dính (chất tạo màng)
- Bột màu/bột độn
- Dung môi

Chất kết dính : Là chất kết dính cho tất cả  các loại bột màu và tạo màng bám dính trên bề mặt vật chất. Chất kết dính sử dụng trong sơn đươc xác định bởi loại sơn, khả năng sử dụng và mục đích sử dụng. Chất kết dính phải  bảo đảm về khả năng bám dính. liên kết màng và độ bền màng
Bột độn (extender) : Bột độn được sử dụng trong thành phần của sơn nhằm cải tiến một số tính chất sản phẩm như ; tính chất màng sơn (độ bóng, độ cứng, độ mượt...), khả năng thi công , kiểm soát độ lắng. Chất độn thường được sử dụng như : Carbonate calcium, Kaoline, Oxide titan, Talc .

Bột màu (Pigment): Nguyên liệu màu sử dụng trong sơn thường là dạng bột. Chức năng chính của màu là tạo màu sắc và độ che phủ cho sơn. Ngoài ra, màu còn ảnh hưởng một số tính chất màng sơn như : độ bóng, độ bền...
Màu gồm hai loại : Vô cơ và Hữu cơ.
Màu vô cơ (màu tự nhiên) : Tone màu thường tối, xỉn nhưng cho độ phủ cao, độ bền màu tốt.
Màu hữu cơ (màu tổng hợp) : Tone màu tươi sáng, cho độ phủ thấp, độ bền màu thấp hơn màu vô cơ.
Phụ gia : Là loại chỉ sử dụng với một lượng rất nhỏ nhưng làm tăng giá trị sử dụng, khả năng bảo quản,tính chất của màng .

Dung môi : Là chất hòa tan nhựa hay pha loãng sơn. Đặc tính nhựa trong sơn sẽ quyết định loại dung môi được sử dụng.  

(Sưu tầm & Tổng hợp)
Đọc thêm..
Dung môi Butanol được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp.


(Nguồn sưu tầm)

Dung môi Butanol - Ứng dụng trong công nghiệp

Dung môi Butanol được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp.


(Nguồn sưu tầm)
Đọc thêm..
Sapphire Chemical

Công ty Sapphire VN, tọa lạc số 34 I, Lý Chiêu Hoàng, Q.6, Tp HCM. Chức năng chính là phân phối hóa chất - dung môi công nghiệp.
Công ty chúng tôi chuyên phân phối hóa chất từ Thái Lan, Sinhgapore, Malaysia, Hàn Quốc ... Đồng thời cũng là nhà phân phối chính thức của TopSolvent.
Những hóa chất thông dụng của Sapphire: Ethyl Acetate, BGE, Ethy Acetate, Hexame, TopSol xxx, Glycerine, Iso- Butanol, N-Nutanol, MPG, DEG, MEG, IPA, Methanol,MEK, N-Butyl Acetate, MIBK, Acetone, S97, Toluene, Xylene ...


Hãy liên hệ với chúng tôi để có giá tốt nhất:
0983.473.444
vu.nl@sapphirechemical.com

Công ty Sapphire VN

Sapphire Chemical

Công ty Sapphire VN, tọa lạc số 34 I, Lý Chiêu Hoàng, Q.6, Tp HCM. Chức năng chính là phân phối hóa chất - dung môi công nghiệp.
Công ty chúng tôi chuyên phân phối hóa chất từ Thái Lan, Sinhgapore, Malaysia, Hàn Quốc ... Đồng thời cũng là nhà phân phối chính thức của TopSolvent.
Những hóa chất thông dụng của Sapphire: Ethyl Acetate, BGE, Ethy Acetate, Hexame, TopSol xxx, Glycerine, Iso- Butanol, N-Nutanol, MPG, DEG, MEG, IPA, Methanol,MEK, N-Butyl Acetate, MIBK, Acetone, S97, Toluene, Xylene ...


Hãy liên hệ với chúng tôi để có giá tốt nhất:
0983.473.444
vu.nl@sapphirechemical.com

Đọc thêm..